image banner
Lịch sử Đảng bộ xã Nga Thái

           KHÁI QUÁT VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ

          1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Nga Thái là một xã thuộc vùng duyên hải , nằm ở phía Đông Bắc của huyện Nga Sơn và của tỉnh Thanh Hoá, có toạ độ địa lý 106 02 25 kinh độ Đông, 20.01.08 vĩ độ Bắc, cách huyện lỵ Nga Sơn 10 km, đến trung tâm thành phố Thanh Hoá khoảng 50 km . Phía Bắc giáp xã Nga An và Nga Phú; phía Nam giáp xã Nga Tiến; phía Tây giáp xã Nga Liên ; phía Đông Nam giáp sông Hoạt - một nhánh của sông Lèn (gọi là sông Càn) và là gianh giới giữa huyện Nga Sơn , tỉnh Thanh Hoá và huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình .

Diện tích tự nhiên xã Nga Thái :766,84 ha, trong đó diện tích nông nghiệp 422,66 ha ; đất cấy lúa 301,7 ha ; đất trồng cói 121 ha; đất thổ cư 154,36 ha; đất gò bãi 15,05 ha; đất bãi tha ma nghĩa địa 6,21 ha; diện tích sông hồ chiếm 6,67 ha. Dân số hiện nay 1.656 hộ với 7.083 khẩu, trong đó đồng bào theo đạo Thiên chúa giáo có 1.068 hộ với 4.726 người, chiếm 3/4 số dân trong xã.

        Nga Thái là vùng đất do phù sa của các sông Đáy và sông Càn bồi tụ . Sông Càn chảy từ phía Bắc vòng về phía Đông Nam qua địa phận các xã Nga Phú , Nga Thái, Nga Tiến , Nga Tân rồi đổ ra cửa biển Lạch Càn . Đoạn qua Nga Thái dòng sông uốn lượn tựa hình cánh cung ôm lấy phần đất của xã, với chiều dài 2,1 km . Đây là nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.Tuy vậy, do bị ảnh hưởng của triều cường nên nguồn nước ở đây dễ bị nhiễm mặn gây ảnh hưởng không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp.Quá trình quai đê lấn biển cùng với hệ thống kênh mương tưới tiêu được xây dựng hợp lý đã tạo nên địa hình với 3 vùng chuyên canh : cây lúa, cây màu và cây cói. Bên cạnh đó, thiên nhiên đã ưu đãi cho Nga Thái nguồn lợi  thuỷ hải sản rất phong phú.

Về khí hậu : Nga Thái mang đặc trưng của khí hậu hải dương, chịu trực tiếp của bão biển theo mùa. Mặc khác, Nga Thái thuộc vùng tiếp giáp và nhận sự chuyển tiếp của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ: nắng lắm, mưa nhiều và rét sớm. Hàng năm nhiệt độ trung bình của các ngày từ 23 đến 26oC, lượng mưa trung bình là 1.540mm, lượng bốc hơi 808mm, độ ẩm không khí 84% . Điều kiện khí hậu trên là điều kiện thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp và trồng cói.

Về giao thông đường thuỷ : Sông Càn chảy qua địa phận của xã, từ xưa đã là tuyến giao thông quan trọng nối với các vùng. Từ đây thuyền bè có thể ngược lên các địa phương phía Tây bắc của huyện, lên Hà Trung, Bỉm Sơn. Hoặc xuôi về các xã phía Đông nam của huyện, rồi ra biển Đông, ngược lên cửa Đáy hay xuôi về cửa Lèn, cửa lạch Bạng giao lưu hàng hoá với cả một vùng miền rộng lớn trong và ngoài tỉnh đến các nước trên thế giới.

Giao thông đường bộ: Nga Thái có hai trục đường giao thông chính : Một con đường từ giáp đê Lạch Càn đi lên phía Tây bắc, đi Nga An nối với đường 5 (nay là Quốc lộ 10B) đi Phát Diệm -Ninh Bình hoặc ngược về phía Tây đi thành phố Thanh Hoá. Một con đường từ Nga Phú  xuyên qua giữa xã xuống phía Tây nam đến Nga Liên. Con đường này xưa kia là con đê Ngự Hàm, gọi là đê Mộng Giường. Ngoài ra, còn có các trục đường liên thôn, liên xóm nối với trục đường chính để ra đường huyện lộ , tỉnh lộ 13 (nay là 508) và Quốc lộ 1A để tới mọi miền đất nước. Hiện nay,đường liên xã giữa Nga Thái với các xã Nga Liên, Nga Tiến và Nga An và đường liên thôn đã được mở rộng và rải nhựa, các ngõ xóm đều đã được nâng cấp và rải bê tông phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân và góp phần làm đẹp thêm bộ mặt nông thôn thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá.

Cầu cống : Có 4 cống dẫn nước từ sông Lạch Càn vào đồng ruộng , gọi là cống Bạ Tình, cống Trường Sơn, cống Thái Sơn và cống Điền Tư. Ngoài ra, còn có hai bến đò, gọi là bến đò Càn 1, bến đò Càn 2, phục vụ nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hoá của nhân dân trong xã với các địa phương thuộc tỉnh Ninh Bình, Nam Định 

Với đặc điểm về địa lý ,điều kiện tự nhiên như đã nói trên ,là những thuận lợi căn bản để Nga Thái phát triển nghề trồng lúa, trồng cói và cây màu; đồng thời có điều kiện phát triển mở rộng nuôi trồng, khai thác thuỷ sản và chăn nuôi gia súc, gia cầm...Tuy vậy, hàng năm Nga Thái phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt, những trận mưa to gió bão từ biển đổ vào đã làm thiệt hại mùa màng và tài sản của nhân dân. Trải qua những khó khăn, thách thức nhân dân Nga Thái càng vững vàng hơn trước thiên tai, năng động và sáng tạo hơn trong lao động sản xuất để xây dựng quê hương ngày thêm giàu đẹp.

 

           2. Quá trình hình thành cộng đồng dân cư và lập làng xã.

 

Vùng đất Nga Thái ngày nay, thuở xa xưa là vùng biển nông thuộc cửa biển Thần phù, do sự vận động của biển trong suốt thời gian dài và nhất là được   phù sa của sông Đáy và sông Hoạt bồi tụ thành một vùng sình lầy mênh mông mọc đầy cây sú vẹt, lau sậy. Đến nửa cuối thế kỷ XIX, vùng bãi bồi này mới có con người đến khai khẩn và sinh cơ lập nghiệp.Theo các nguồn tư liệu lịch sử địa phương cho biết : Vào năm 1867, cựu cai tổng Trần Xuân Lãng   quê ở Trà Lũ , tỉnh Thái Bình cùng một số người khác như Lê Văn Đạt, Phạm Văn Đệ, Đinh Văn Khánh, Đinh Văn Khương, Nguyễn Văn Quỳ…vào vùng đất bãi ở Nga Sơn để khai khẩn, lập thành 3 tổng ở đây vào năm 1872 với tên Liên Sơn, Yên Sơn, Nam Sơn, có 552 đinh. Năm Tân Mùi  1871, thời vua Tự Đức thứ 24 nhà Nguyễn, Linh mục Trần Lục ( gọi là cha Khiêm), quê ở thôn Đạo Đức, tổng Cao Vịnh, huyện Nga Sơn, cùng với Ba Tư ở Ninh Bình vào chiêu dân thành lập họ đạo Liên Nghĩa thuộc về xứ Hảo Nho, do Linh mục xứ Hảo Nho phụ trách. Đến năm Tự Đức thứ 28 (1875), triều đình nhà Nguyễn đã có chỉ dụ thành lập ba tổng Anh Sơn, Yên Sơn, Nam Sơn, gọi chung là Tam Tổng. Bấy giờ, Nga Thái thuộc tổng Anh Sơn, cai tổng là Trần Xuân Thức (con trai ông Trần Xuân Lãng), phó tổng ông Trần Văn Hanh . “Năm 1876 một trận lụt lớn tàn phá cả 3 tổng, nhân dân phiêu tán hết, mãi đến năm 1890 mới trở về khai khẩn lại” (1).Đến năm Tân Mão -1891, thời vua Thành Thái thứ 3 triều Nguyễn, linh mục Tang- đứng ra thành lập xứ đạo Liên Nghĩa,với số dân là 151 hộ (440 người), chia thành 4 họ đạo gồm họ Liên Quy, họ Lạc Nghiệp, họ Hiếu Nghĩa, họ Yến Nghĩa. Thời vua Thành Thái (1889 - 1907), tổng Anh Sơn đổi thành tổng Liên Sơn. Vùng đất Nga Thái ngày nay thuộc tổng Liên Sơn ,bao gồm  6 làng: Hưng Nhân, Vĩnh Ninh, Yếu Nghĩa, Hiếu Nghĩa, Lạc Nghiệp, Liên Quy và 3 trại : Tân Phong, Hưng Nhân, Thiện Nhân .

Năm 1918, xứ Tam Tổng đã có  1.134 người. Về sau , do sự phát triển về dân số nên đã hình thành thêm 4 làng: Tích Thiện, Lạc Đạo, Phúc Thọ, Thi Nhân. Đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, tổng Liên Sơn gồm 14 làng: Liên Quy, Lạc Nghiệp, Hiếu nghĩa, Vĩnh Ninh, Hưng Nhân, Yếu Nghĩa (thuộc xã Nga Thái), Tích thiện, Lạc Đạo, Phúc Thọ, Thi Nhân, Thành Đức, Mẫu Đức, Ngọc Liên, Ân Quang (thuộc xã Nga Liên).

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 xoá tên đơn vị tổng thành lập xã Liên Sơn . Đến tháng 12 năm 1956, Liên Sơn chia tách thành hai xã: Nga Thái và Nga Liên. Tên gọi Nga Thái bắt đầu từ đây. Bấy giờ, xã Nga Thái gồm 6 xóm : Hải Sơn, Trường Sơn, Thanh Sơn, Thái sơn, Yên Sơn và Anh Sơn. Cũng trong thời gian này có thêm một họ đạo được thành lập, gọi là họ Liên Bang, với 12 hộ giáo  dân (72 người), nâng số họ đạo ở xã Nga Thái lên 5 họ, với 2440 giáo dân (451 hộ), trong đó 1178 nam , 1262 nữ. Đến năm 1984, xã Nga Thái có 8 họ đạo, trong đó có họ Hưng Nhân, họ Vĩnh Ninh trước thuộc xứ Tam Tổng, năm 1975 chuyển về xứ Liên Nghĩa, còn lại họ Thiện Nhân vẫn thuộc xứ Tân Hải.

Hiện nay, Nga Thái gồm 9 làng : Thái Thịnh (xóm 1), Hải Thanh (xóm 2), Thanh Sơn (xóm 3), Thanh Bình (xóm 4), Yên Nhân (xóm 5), Đoàn Kết (xóm 6),Yên Thái (xóm 7), Nhân Sơn (xóm 8 ) ,Tân Thành (xóm 9).

 ----------------

(1) Ban Nghiên cứu và biên soạn Lịch sử Thanh Hóa – Thanh Hóa thời kỳ 1802 – 1930 (Kỷ yếu hội thảo khoa học),NXB Thanh Hóa-2003, tr.132

 Trải qua quá trình lập làng, dựng xóm, cộng đồng cư dân xã Nga Thái đã đoàn kết,chung sức đồng lòng chống chọi với thiên tai, cải tạo vùng đất sình lầy  hoang vu trở thành một vùng quê trù phú ở vùng duyên hải phía Đông Bắc huyện Nga Sơn. Ngày nay, Nga Thái đã có tới trên 18 dòng họ cùng chung sống, đoàn kết thân ái ,cùng nhau vượt mọi khó khăn, trở ngại, xây dựng quê hương ngày càng phát triển về mọi mặt.

 

 3. Truyền thống lịch sử

 

        Bằng đôi bàn tay lao động, cộng đồng cư dân Nga Thái đã biết dựa vào điều kiện tự nhiên, biến vùng đất nơi chân sóng hoang vu, cây cối hoang dại rậm rạp trở thành xóm làng sầm uất, đồng ruộng màu mỡ, mùa màng bội thu. Đến những năm 20 của thế kỷ XX, vùng Tam Tổng (trong đó có Nga Thái) đã trở thành những xóm làng trù mật, phát triển nông nghiệp trồng lúa và cói. Chales RoBequain (học giả người Pháp) đã nhận xét về sự phát triển ở vùng đất này như sau : “ Sự phồn thịnh của Tam Tổng ngày nay hầu như đã có cơ sở. Năm 1921, ba tổng có 439 hec-ta bị nước mặn tràn vào. Ta có thể tìm thấy một tấm gương bổ ích của tinh thần bền bỉ, dẻo dai của người Việt Nam trong những mảnh đất bằng phẳng và buồn tẻ này. Cách đây 80 năm là bãi lầy mà ngày nay bên ngoài cồn cát là nhà cửa, tre pheo mở rộng không ngừng trong tấm thảm xanh của cói và lúa"(1).

Truyền thống lao động cần cù sáng tạo, tự lập tự cường trong sản xuất   của người dân Nga Thái còn được thể hiện trong những công trình quai đê lấn biển ,  thau chua rửa mặn tạo nên những cánh đồng cấy lúa, trồng màu , trồng cây cói. Tiêu biểu là việc đào đắp những con đê ngăn biển như : con đê Ngự Hàm I (đắp năm 1918), đào sông Ngang (năm 1920), đắp đê Ngự Hàm II (năm 1958) v.v… Cùng với kinh nghiệm lao động sản xuất, người dân Nga Thái đã cải tạo đồng ruộng, chọn lọc những loại cây trồng thích hợp với  từng loại đất đem lại hiệu quả và năng suất cao. Nhất là hệ thống mương máng tưới - tiêu đã được quy hoạch hợp lý và xây dựng kiên cố.  Đó là những kỳ tích rất đáng tự hào trong quá trình  khai thiên lập địa ,dựng làng lập xóm để đến hôm nay Đảng bộ và nhân dân Nga Thái vững bước trên con đường xây dựng quê hương giàu đẹp.

Đi đôi với cây lúa, cây cói ở đồng đất Nga Thái đã trở thành cây trồng mũi nhọn đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho mỗi gia đình nông dân. Do thích hợp với thổ nhưỡng và khí hậu nơi đây mà cây cói phát triển rất tốt : thân cao, trắng đanh, dai bền. Sản phẩm cói được người tiêu dùng ưa chuộng vì bền, bóng đẹp, dùng lâu

 ----------------

  (1).Charles Robequain: Le Thanh Hoa (tỉnh Thanh Hoá) xuất bản năm 1929. Bản dịch của Xuân Lênh. Ty Văn hoá Thanh Hoá. T II, quyển 3. tr 227.

 ngày không bị sờn , nhũn. 

          Từ xa xưa, nghề trồng cói, dệt chiếu ở Nga Sơn đã nổi tiếng cả nước và đã     đi vào thơ ca :

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông.

          Nhận xét về chiếu cói Nga Sơn, học giả Charles Robequain (người Pháp) chép: "Nghề dệt chiếu bằng cây cói xem như được phát triển quan trọng. Chiếu được làm nhiều nhất ở Quảng Xương, Nga Sơn . Ba tổng ở cực Đông Bắc của tỉnh là Nam Sơn, Yên Sơn, Liên Sơn trồng trọt cói và đưa về Phát Diệm” (1)

          Cây cói và sản phẩm từ sợi cói ở Nga Sơn nói chung, Nga Thái nói riêng rất nổi tiếng,chẳng những là do chất lượng của nguyên liệu cói , mà còn do bàn tay khéo léo, óc sáng tạo và kinh nghiệm nghề nghiệp của những người thợ được trao truyền từ đời này sang đời khác.Trong các nghề thủ công truyền thống ở Nga Thái, dệt chiếu cói là một nghề được duy trì liên tục, mỗi ngày một phát triển , thu hút đông đảo lực lượng lao động tham gia nhất là thời gian nông nhàn. Từ ngày đất nước hoàn toàn độc lập thống nhất, vùng chiếu cói Nga Thái, Nga Sơn phát triển mạnh với nhiều sản phẩm chiếu đậu, chiếu hoa, chiếu lõi xe đan, thảm cói, hàng mỹ nghệ từ sợi cói... Các sản phẩm đó không chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng, thị hiếu của người tiêu dùng trong nước, mà còn xuất khẩu sang các nước Đông Âu, Đông Á, Bắc Á.

          Trong quá trình chinh phục thiên nhiên, khai phá đất hoang, biến  vùng đất bồi chua mặn ven biển thành đồng ruộng phì nhiêu, xóm làng trù phú, lớp lớp cư dân Nga Thái đã lập nên những kỳ tích rất đáng tự hào .Vì thế các tầng lớp nhân dân trong xã đã tích luỹ được vốn sống khá phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm không ngừng mở mang kinh tế cho gia đình, quê hương, đất nước. Sự đoàn kết thương yêu nhau với tình làng nghĩa xóm, cũng từ đó ngày một đậm đà thắm thiết.Trải qua những biến động khốc liệt của thiên nhiên, những thăng trầm của lịch sử, nhân dân Nga Thái vẫn luôn luôn giữ gìn được những đạo lý tốt đẹp của dân tộc . Những lẽ sống đời thường như lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ , sự

 tôn kính tổ tiên, tình bạn bè trung thực, nghĩa vợ chồng thuỷ chung, tinh thần  tôn sư trọng đạo , trọng nghĩa cầu hiền,ý thức ăn ở có trước có sau, tình cảm tương thân tương ái được nhân dân luôn luôn vun đắp. Truyền thống lao động cần cù sáng tạo và truyền thống đạo đức thanh cao ấy đã biến thành sức mạnh cho mọi niềm tin trong cuộc sống và là sức mạnh của lòng yêu nước trong mọi tầng lớp nhân dân.     Trên cơ sở đó mà điểm nổi bật của truyền thống đoàn kết trong cộng

 đồng làng xã là lòng yêu nước chống ngoại xâm và tinh thần đoàn kết đấu tranh

     -------------------

   (1) Ch. Robequain. Tỉnh Thanh Hoá. Sdd. T II. quyển 3, tr 220    

 chống cường quyền áp bức bóc lột trong xã hội.

           Là vùng đất hình thành làng, xã vào cuối thế kỷ XIX, cũng là thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta. Kẻ thù lúc này không chỉ mạnh về tiềm lực quân sự mà còn mạnh về tiềm lực kinh tế . Mặc dù vậy, nhân dân ta quyết không chịu khuất phục. Lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết trong mọi tầng lớp nhân dân lại nhanh chóng dâng lên và  kết thành làn sóng vô cùng mạnh mẽ và to lớn nhấn chìm tất cả bọn cướp nước và lũ bán nước . Cùng với lòng yêu nước nồng nàn là tinh thần đấu tranh chống mọi bất công, cường quyền, áp bức bóc lột trong xã hội . Nổi lên dưới chế độ cũ là các cuộc đấu tranh chống sưu cao thuế nặng, chống cường hào trong làng xóm. Điều đáng tự hào hơn nữa là lòng yêu nước của các bậc tiền bối đã gắn liền với phẩm chất đạo đức thanh liêm, chính trực của quần chúng. Suốt hơn mười thập niên qua, nhiều tấm gương sáng đẹp đẽ được sản sinh trong phong trào chống ngoại xâm. Có những người con quê hương đã cống hiến trọn đời vì dân vì nước được sử sách ghi tên, nhân dân ngưỡng mộ. Đó là những tấm gương  tận trung với nước, tận hiếu với dân  đã tô đậm truyền thống yêu nước bất khuất của quê hương qua mọi thế hệ.

Bên cạnh truyền thống lao động cần cù và yêu nước nồng nàn là điểm nổi bật ấy, truyền thống văn hoá còn là điểm sáng rất đáng tự hào của lớp lớp nhân dân Nga Thái . Điểm nổi lên trong truyền thống văn hoá là truyền thống hiếu học. Dưới chế độ thực dân phong kiến, người dân nghèo Nga Thái không được   học hành, có chăng chỉ là tầng lớp giàu có, hoặc một số ít thầy đồ dạy chữ  thánh hiền  (chữ Hán)cho con cái những gia đình khá giả. Đến khi có chữ quốc ngữ, việc học hành ở Nga Thái cũng chưa được chú trọng bởi chính sách  ngu dân  của bọn thực dân cướp nước, làng xóm không có lớp học, cả vùng Tam Tổng lúc bấy giờ chỉ có lớp học tư thục mở tại nhà thờ Tam Tổng , nhưng chủ yếu dạy cho con em giáo dân biết đọc kinh bổn .

Từ sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, hưởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, truyền thống hiếu học của người Nga Thái được phát huy mạnh mẽ. Phong trào bình dân học vụ được nhân dân hưởng ứng đã đặt nền tảng cho việc phát triển giáo dục trên quê hương Nga Thái. Từ đây, địa phương ngày càng có nhiều người học hành đỗ đạt tạo nên nguồn lực trí thức quý giá đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước.

Trên quê hương Nga Thái có hai tôn giáo song song tồn tại : tôn giáo bản địa (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thần) và Thiên chúa giáo, trong đó số người theo đạo Thiên chúa giáo chiếm đa số. Đối với đồng bào không theo đạo Thiên chúa thì giữ việc thờ cúng tổ tiên tại các gia đình, từ đường dòng họ,hoặc thờ phụng các vị thần ( nhân thần và thiên thần)có công với dân với nước theo đạo lý truyền thống dân tộc  “uống nước nhớ nguồn” và tri ân công đức tiền nhân. Đồng bào công giáo thì tôn thờ Chúa Jesu. Ở Nga Thái, nhà thờ Thiên chúa giáo xứ Liên Quy (nay gọi là Liên Nghĩa) được xây dựng từ năm 1871, lúc đầu làm bằng gỗ, lợp tranh. Đến năm 1905, nhà thờ được tu sửa và mở rộng qui mô kiến trúc. Ông Trương Tuyển - người Kim Sơn, Ninh Bình dâng cúng hơn 4,5 mẫu đất để xây dựng nhà thờ. Năm 1931, dưới thời Linh mục Thuấn phụ trách, nhà thờ giáo xứ Liên Quy được xây dựng kiên cố trên diện tích 580,5 mét vuông, khánh thành vào ngày 25 tháng7 năm 1937. .Nhà thờ xứ Liên Quy là công trình kiến trúc tôn giáo mang phong cách nghệ thuật phương Tây ,có ngọn tháp cao 29m . Nơi đây, trở thành trung tâm tu hành và hành lễ của giáo dân trong địa hạt. Hàng năm vào kỳ lễ Chúa giáng sinh (ngày 25-12 dương lịch), tại nhà thờ Liên Quy diễn ra nhiều hoạt động văn hoá mang đậm sắc thái văn hoá ở địa phương.

Lễ Chúa giáng sinh (25 tháng 12 dương lịch) là lễ lớn nhất của người công giáo. Trong ngày lễ trọng này, nhà thờ Liên Quy được trang trí đèn hoa rực rỡ, đồng bào công giáo đến nhà thờ cầu kinh đón chúa hài đồng giáng sinh . Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng bào công giáo ở Nga Thái luôn luôn thể hiện lòng  kính Chúa - yêu nước  ,  sống tốt đời đẹp đạo , tích cực tham gia phong trào  “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá trong khu dân cư” . Đi đôi với sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, phong trào văn hoá văn nghệ ở địa phương hết sức sôi nổi đã đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đời sống tinh thần của nhân dân.

Truyền thống văn hoá trên đã củng cố vững chắc thêm truyền thống yêu nước, đấu tranh chống cường quyền áp bức bóc lột, nâng cánh cho cuộc sống hàng ngày của nhân dân.Từ bao đời nay, cộng đồng dân cư Nga Thái luôn luôn gắn bó, đoàn kết bên nhau và đã cùng nhau hun đúc nên nếp sống văn hoá với thuần phong, mỹ tục đẹp đẽ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống văn hoá đó đã và đang  được khơi dậy mạnh mẽ nhằm góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc theo Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX) của Đảng đã đề ra.

Tóm lại, là một xã ven biển của huyện Nga Sơn được thiên nhiên ưu đãi nhiều nhưng cũng không kém phần khắc nghiệt, lớp lớp cư dân Nga Thái, thế hệ sau kế thừa và phát triển thành tựu của thế hệ trước, đã dày công tạo dựng thành mảnh đất có đời sống sản xuất phong phú, nghề nghiệp khéo tay, có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và tinh thần tự lập, tự cường bền vững, có bản sắc văn hoá rạng rỡ, giàu tính nhân văn, tinh thần quả cảm trong đấu tranh chống ngoại xâm và đấu tranh xã hội. Những tấm gương hy sinh anh dũng của các anh hùng liệt sỹ trong các cuộc kháng chiến cứu quốc, những sự tích diệu kỳ trong lao động sản xuất còn ấp ủ trong lòng nhân dân, quê hương đã cùng với mọi tầng lớp nhân dân liên tiếp tạo nên  những thành tựu quan trọng   trong đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Nga Thái hôm nay.

Tin nổi bật
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement

image advertisement

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: UBND Xã Tân Tiến
Địa chỉ: UBND Xã Tân Tiến
Email:......
Trưởng Ban biên tập: .....; Chức vụ: .......
Ghi rõ nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa xã Tân Tiến hoặc tantien.thanhhoa.gov.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.

Website được thiết kế bởi VNPT